HTX Sen Quê Bác kiến tạo hồ sen hồng và hồ sen trắng Bạch Liên

HTX Sen Quê Bác kiến tạo hồ Sen Hồng và hồ sen trắng Bạch Liên cạnh nhau tượng trưng cho cuộc gặp gỡ cảm động của Bác với chị gái Nguyễn Thị Thanh

Chuyện kể rằng, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bà Nguyễn Thị Thanh sau một thời gian hoạt động cách mạng ở nhiều nơi đã chuyển về xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thời điểm này, bà đã vào độ tuổi ngoài 60. Khi được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh chính em trai mình, cuối năm 1946, bà đã ra Hà Nội để thăm Người. Đồng chí Hồ Quang Chính, người chứng kiến cuộc gặp gỡ cảm động ấy, sau này là tác giả cuốn hồi ký “Bác Hồ gặp chị và người anh ruột” đã thuật lại trong cuốn sách như sau:

Hôm ấy, vào lúc 11h30’ ngày 27/10/1946 vừa nhìn thấy Bác, bà Thanh vừa gọi, vừa chạy lại ôm lấy Bác: “Cậu, cậu, cậu khoẻ không?” và Bác khóc, nước mắt Bác thấm vào cánh tay áo của bà, mắt Bác chớp chớp, Bác lấy khăn lau mắt mình và nói: “Chị khoẻ không? Em biết chị chờ lâu, nhưng vì em đang bận tiếp các đồng chí Nam Bộ ra, chưa thể dứt việc được”.

Sau phút giây cảm động ấy, Bác và bà Thanh đi lại phía bàn. Bác kéo ghế mời bà Thanh ngồi, bà Thanh hỏi Bác: “Cậu đi lâu thế có nhớ quê hương không? Còn nhớ chị ngồi ru võng cho cậu ngủ, chị hát ru bài non nước không? Thuở đó, gia đình ta khá vất vả”.
Nói đến đây, bà lại khóc khiến nét mặt Bác bùi ngùi cảm động. Bác lấy khăn chấm chấm đôi mắt mình, vừa hút thuốc, vừa nhìn ra cửa sổ, Bác nói: “Chị ơi, quê hương nghĩa nặng ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình, những chiến sỹ cách mạng chân chính đều là những người con chí hiếu. Chị ơi, ở nước ngoài, có đôi khi đêm khuya thanh vắng, bỗng chốc nghe một lời ru con của người mình, thì lòng dạ mình lại càng thêm nhớ đất nước, quê hương, bà con”.

Sau đó, Bác hỏi đến quê hương làng Kim Liên, làng Hoàng Trù (quê nội và quê ngoại Bác), ông nội của anh Nguyễn Sinh Thọ (cháu gọi Bác Hồ bằng ông) và một số cụ ở quê nhà. Bà Thanh và anh Thọ lần lượt trả lời. Sau khi Bác nói chuyện với bà Thanh, anh Thọ, Bác quay sang để tay lên vai tôi và hỏi: “Thế còn cháu quê ở làng nào?”. Tôi trả lời: “Thưa ông, cháu quê ở làng Thọ Toán cuối huyện Nam Đàn”. Nói đến đây, tôi sợ Bác không biết làng tôi, tôi thưa tiếp: “Thưa ông, làng cháu ở gần làng Phổ Đông, Phổ Tứ, làng Nam Kim, gần sông Lam, gần cầu sắt Yên Xuân”. Bác nói: “Ờ, ờ, ông nhớ rồi, vùng đó có bãi giữa khá to của sông Lam, có lần ông đã đi đò dọc qua đó để đưa thư cho các cụ hoạt động chống đế quốc Pháp”. Rồi Bác hỏi cha mẹ tôi, hỏi tôi gặp và quen bác Hồ Tùng Mậu từ bao giờ? Tôi lần lượt trả lời Bác Hồ. Bác nói: “Tuy xa quê lâu, nhưng ông vẫn nhớ hàng dâm bụt, dãy chè xanh, đến tương, món cá khô, đến hát dặm Nghệ – Tĩnh”. Bác hỏi chúng tôi có hay đi hát phường vải không? Và Bác mỉm cười.

Bà Thanh sực nhớ và nói: “Chị biếu cậu một chai tương Nam Đàn và hai con gà”. Vừa nói, bà vừa chỉ vào góc tường chỗ để chai tương và hai con gà. Bác vui vẻ đáp: “Cảm ơn chị và hai cháu, tương thì để thỉnh thoảng mời cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng) cùng ăn cho vui, gà để nuôi cho nó đẻ trứng”.

Bà Thanh thân mật hỏi Bác: Khi nào cậu về thăm quê được?. Bác nhìn ra ngoài cửa sổ, một lát sau, Bác trả lời: “Em cũng muốn về thăm quê, nhưng chắc chắn còn lâu, vì việc nước còn nặng nề lắm”. Hai chị em đôi mắt ngấn lệ.

Sau lần đó, bà Thanh trở về sống ở quê hương Kim Liên. Cuộc đời của bà là một tấm gương về lòng yêu nước thương dân, chí công vô tư mà bà đã hiến dâng cho sự nghiệp cho cách mạng.

 Bà Nguyễn Thị Thanh – chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Nguyễn Thị Thanh – Chị gái của Chủ Tịch Hồ Chí Minh,  bí danh là Bạch Liên nữ sỹ, sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Hoàng Trù, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. (Nay là xóm Trù 1, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An). Bà sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho nguồn gốc  nông dân có cuộc sống thanh bần. Từ thuở thiếu thời bà đã tiếp thu truyền thống yêu nước thương người của cả hai gia đình nội ngoại và tự trang bị cho mình vốn Hán học, Y học.

Là con gái đầu lòng, bà sớm ý thức được trách nhiệm, có tính tự lập, đảm đang trong cuộc sống. Năm 11 tuổi bà thay mặt bố mẹ chăm sóc phụng dưỡng bà ngoại để gia đình yên tâm vào Huế. Năm 1901, cụ Hoàng Thị Loan qua đời bà đảm đương tất cả mọi công việc nội trợ gia đình, chăm sóc bố, nuôi dưỡng các em khôn lớn, trưởng thành.
Năm Tân Sửu, cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của bà đậu Phó bảng, gia đình được  hưởng đặc  ân “Vinh quy bái tổ” trở về Làng Sen sinh sống. Trong thời gian ở Làng Sen cụ Nguyễn Sinh Sắc  thường đưa cậu Khiêm, cậu Cung đi giao du ở Thanh Chương, Đức Thọ, Vạn Phần, Diễn Châu, Nghi Lộc và có lần ra tận Kiến Xương – Thái Bình, bà Nguyễn Thị Thanh một mình lo toan, gánh vác công việc gia đình, chăm nom vườn tược.
Năm 1906, cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Huế nhậm chức Thừa biện Bộ lễ, bà Thanh được cụ cho phép ở lại trông nom nhà cửa, ruộng vườn. Và từ đó bà bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước cùng Đội Quyên, ấm Võ. Tuổi trẻ bà Nguyễn Thị Thanh là một người con gái có nhan sắc, thông minh, đẹp người, đẹp nết, lo toan, đảm đang mọi công việc gia đình, mẫn tiệp trong giao tiếp văn hoá. Bà là mẫu hình lý tưởng của bao chàng trai, các bậc quyền quý muốn làm bạn xe duyên gắn bó trăm năm, song bà đều lấy mọi lý do từ chối, gạt bỏ những chuyện  riêng tư để  hướng về các hoạt động cứu nước.
Bà có mối liên hệ chặt chẽ với nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, hoạt động cùng Đội Quyên, Đội Phấn làm liên lạc, quyên góp tiền của cho nghĩa quân và phong trào Đông Du

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn cần tư vấn thêm về sản phẩm?

Đường dây hỗ trợ miễn phí

0949.478.986


ĐK tư vấn